Nhật Bản

Trong tất cả các chủ thể chính trị và văn hóa lịch sử ở châu Á, Nhật Bản phản ứng sớm nhất và dứt khoát nhất trước cuộc tấn công của phương Tây trên toàn thế giới. Nằm trên một quần đảo với nơi gần nhất cách lục địa châu Á vài trăm dặm, Nhật Bản đã gây dựng những truyền thống và văn hóa đặc biệt trong sự biệt lập. Có một sự đồng nhất gần như hoàn toàn về mặt sắc tộc và ngôn ngữ, cùng với một ý thức hệ chính thống khẳng định tổ tiên thần linh của người Nhật Bản, quốc gia này đã biến niềm tin về bản sắc độc đáo của mình thành một biểu cam kết gần như tôn giáo. Cảm giác khác biệt này đã đem đến cho Nhật Bản sự linh hoạt tuyệt vời trong việc điều chỉnh chính sách của mình để phù hợp với quan niệm về sự cần thiết có tính chiến lược quốc gia. Trong khoảng thời gian hơn một thế kỷ từ sau năm 1868, Nhật Bản đã chuyển từ trạng thái hoàn toàn biệt lập sang việc mở rộng vay mượn các mô hình từ những quốc gia rõ ràng là hiện đại nhất ở phương Tây (mô hình quân đội của Đức, các thể chế nghị viện và hải quân của Anh); từ nỗ lực táo bạo trong việc xây dựng đế quốc cho tới chủ nghĩa hòa bình, và từ đó tái xuất hiện với vị thế của một cường quốc lớn kiểu mới; từ chế độ phong kiến tới các hình thức khác nhau của chủ nghĩa chuyên chế phương Tây, và từ đó theo đuổi dân chủ; lần lượt nằm trong rồi ra khỏi trật tự thế giới (đầu tiên là của phương Tây, sau đó là châu Á và giờ đây là toàn cầu). Trong suốt quá trình đó, Nhật Bản tin rằng sứ mệnh quốc gia của mình không thể bị phai nhạt khi điều chỉnh theo các cách thức và các thể chế của những xã hội khác; sứ mệnh ấy sẽ chỉ được thúc đẩy bằng cách thích ứng thành công.

         Trong nhiều thế kỷ, Nhật Bản tồn tại ở ven rìa của thế giới Trung Quốc, vay mượn rất nhiều từ tôn giáo và văn hóa Trung Quốc. Nhưng không giống như hầu hết các xã hội trong vòng ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc, nó đã chuyển đổi các hình thức vay mượn thành các mô hình Nhật Bản và không bao giờ đem lồng chúng vào một nghĩa vụ tôn ti cấp bậc đối với Trung Quốc. Có những thời điểm, vị thế kiên cường của Nhật Bản là nguồn cơn của sự khiếp đảm đối với triều đình Trung Quốc. Các dân tộc châu Á khác chấp nhận các tiền đề và nghi thức trong hệ thống triều cống này – một sự phụ thuộc mang tính biểu tượng đối với Hoàng đế Trung Quốc, theo đó lễ nghi của Trung Quốc được áp đặt lên thiên hạ – giao thương dưới danh nghĩa “cống nạp” để tiếp cận thị trường Trung Quốc. Họ tôn trọng (ít nhất là trong việc trao đổi với triều đình Trung Quốc) khái niệm Nho giáo về trật tự quốc tế như là tôn ti trật tự trong gia tộc mà Trung Quốc là tộc trưởng. Về mặt địa lý, Nhật Bản đủ gần để có thể hiểu sát nhất từ này và thường ngầm chấp nhận đối với trật tự thế giới kiểu Trung Quốc như một thực tế khu vực. Trong việc tìm kiếm thương mại, giao lưu văn hóa, các phái đoàn Nhật Bản tuân thủ nghi thức xã giao gần giống với những hình thức đã được thiết lập từ trước, khiến các quan lại Trung Quốc có thể hiểu như là bằng chứng về khát vọng của Nhật Bản muốn trở thành thành viên trong một trật tự tôn ti cấp bậc chung. Tuy nhiên, trong một khu vực đã rất quen thuộc với sự thay đổi vị thế được hàm ý trong những quyết định nhỏ nhặt về nghi thức – chẳng hạn như từ duy nhất được dùng để chỉ người trị vì, cách thức một lá thư trang trọng được chuyển đi, hoặc phong cách viết ngày tháng theo lịch trên một tài liệu chính thức – Nhật Bản luôn từ chối đảm nhận vai trò chính thức trong hệ thống triều cống mà Trung Quốc là trung tâm. Quốc gia này lơ lửng ở ngoài rìa của một trật tự thế giới tôn ti cấp bậc của Trung Quốc, lúc thì nhấn mạnh sự bình đẳng và lúc thì lại nhấn mạnh tới thế ưu việt riêng của mình.

         Theo quan điểm riêng của nước này về trật tự thế giới thì đứng ở vị trí cao nhất trong xã hội Nhật Bản là Hoàng đế Nhật Bản – Thiên Hoàng, giống như Hoàng đế Trung Quốc, nhân vật này được coi là thiên tử, cầu nối giữa con người và thánh thần. Được thể hiện lặp đi lặp lại trên các công hàm ngoại giao của Nhật Bản gửi đến triều đình Trung Quốc, chức vị này là thách thức trực tiếp đối với vũ trụ quan về trật tự thế giới của Trung Quốc, tỏng đó đặt Hoàng đế Trung Quốc ở đỉnh cao duy nhất trong tôn ti cấp bậc của loài người. Bên cạnh vị thế này (nơi mà sự vay mượn siêu việt vượt lên trên và ra xa ngoài những gì có thể đã được tuyên bố bởi bất kỳ Hoàng đế La Mã Thần thánh nào ở châu Âu), triết học chính trị truyền thống của Nhật Bản thừa nhận một sự khác biệt nữa, đó là coi các Thiên Hoàng là những vị thần hậu duệ của Nữ thần Mặt trời, người đã sinh ra vị Thiên Hoàng đầu tiên và trao cho những người kế vị của Hoàng đế đó quyền cai trị vĩnh cửu. Theo cuốn Hồ sơ về sự kế thừa chính danh của những quốc vương thần thánh vào thế kỷ 14, thì

Nhật Bản là đất nước thần thánh. Tổ tiên trên thiên đình là những người đầu tiên đặt nền móng cho đất nước này, và Nữ thần Mặt trời đã để dòng dõi của Người trị vì nơi này mãi mãi. Đây là sự thật chỉ đúng với đất nước chúng ta, và không thể tìm thấy một điều tương tự ở những miền đất khác. Đó là lý do vì sao Nhật Bản được gọi là đất nước thần thánh.

         Vị trí của Nhật Bản trên những hòn đảo ngoài khơi hoàn toàn cho phép nước này có nhiều lựa chọn rộng mở trong việc liệu có tham gia vào các vấn đề quốc tế hay không. Trong nhiều thế kỷ, Nhật Bản không tham gia vào các vấn đề của châu Á, nó gây dựng truyền thống quân sự của mình qua các cuộc nội chiến và tùy nghi chấp nhận thương mại và văn hóa nước ngoài theo ý mình. Cuối thế kỷ 16, một cách đường đột và đầy tham vọng, Nhật Bản nỗ lực viết lại vai trò của mình khiến các nước láng giếng ban đầu cho là không thể chấp nhận được. Hệ quả là xảy ra một trong những xung đột quân sự lớn của châu Á, mà các di sản trong khu vực của nó vẫn còn là đề tài suy ngẫm và tranh cãi sâu sắc, và những bài học của nó, nếu được chú ý đến, có thể đã thay đổi cách hành xử của Mỹ trong Chiến tranh Triều Tiên ở thế kỷ 20.

         Năm 1590, sau khi đánh bại các đối thủ, thống nhất Nhật Bản và chấm dứt hơn một thế kỷ nội chiến, Toyotomi Hideyoshi1 tuyên bố về một tầm nhìn vĩ đại: ông sẽ xây dựng một đội quân lớn nhất thế giới, tiến quân vào Bán đảo Triều Tiên, chinh phục Trung Quốc, và chinh phục cả thế giới. Ông gửi một bức thư cho Vua Triều Tiên tuyên bố ý định của mình là “tiến vào đất nước Đại Minh và bắt người dân ở đó phải tuân thủ theo tập quán và cách cư xử của chúng tôi”, và mời gọi sự giúp đỡ của vị vua này. Sau khi vị vua này ngần ngại và cảnh báo ông không nên theo đuổi nỗ lực đó (viện dẫn “mối quan hệ không thể tách rời giữa Trung Quốc và vương quốc của chúng tôi” và cả nguyên tắc Nho giáo “xâm lược một quốc gia khác là một hành động mà những người có văn hóa và có trí tuệ nên cảm thấy xấu hổ”), Hideyoshi đã phát động một cuộc xâm lược với 160.000 quân và khoảng 700 chiến thuyền. Lực lượng quy mô lớn, ồ ạt này làm choáng ngợp sự phòng thủ ban đầu và nhanh chóng tiến quân lên Bán đảo. Tốc độ của nó chậm lại khi Đô đốc Lý Thuấn Thần2 của Triều Tiên tổ chức kháng cự bằng hải quân đầy quyết tâm, liên tục tấn công đường tiếp tế của Hideyoshi và làm chênh lệch hướng các đạo quân xâm lược trong các trận đánh dọc bờ biển. Khi lực lượng Nhật Bản tới Bình Nhưỡng, gần nút thắt hẹp phía bắc của Bán đảo (và hiện là thủ đô Bắc Triều Tiên), Trung Quốc dùng vũ lực can thiệp, không muốn để nước triều cống của mình tràn ngập quân thù. Một đội quân viễn chinh Trung Quốc ước khoảng 40.000 đến 100.000 quân thiện chiến vượt sông Áp Lục3 và đẩy lui lực lượng Nhật Bản tới tận Seoul. Sau năm năm đàm phán không đi tới kết quả và cuộc chiến đấu chịu nhiều tổn thất, Hideyoshi chết, lực lượng xâm lược rút lui và hiện trạng ban đầu được khôi phục. Những người cho rằng lịch sự không bao giờ lặp lại nên suy ngẫm về sự tương đồng giữa cuộc kháng chiến của Trung Quốc chống lại kế hoạch của Hideyoshi với cuộc chiến mà nước Mỹ phải đối đầu trong chiến tranh Triều Tiên gần 400 năm sau đó.

Sau thất bại của cuộc phiêu lưu này, Nhật Bản đổi hướng, chuyển sang trạng thái ngày càng biệt lập. Dưới chính sách “bế quan tỏa cảng” kéo dài hơn hai thế kỷ, Nhật Bản gần như không tham gia vào bất kỳ trật tự thế giới nào. Quan hệ toàn diện cấp nhà nước với điều kiện bình đẳng ngoại giao chặt chẽ chỉ tồn tại với Triều Tiên. Thương nhân Trung Quốc được phép hoạt động ở một số địa điểm được chỉ định, mặc dù không có quan hệ Nhật Bản – Trung Quốc chính thức nào tồn tại vì không có cách nào có thể làm thỏa mãn lòng tự ái của cả hai bên. Ngoại thương với các nước châu Âu bị giới hạn ở một số thành phố cụ thể ven biển; tới năm 1673, tất cả bị trục xuất, ngoại trừ những người Hà Lan và họ bị giới hạn ở một hòn đảo nhân tạo đơn độc ngoài khơi cảng Nagasaki. Năm 1825, những nghi ngờ đối với các cường quốc hàng hải phương Tây đã trở nên quá lớn đến nỗi chính quyền quân sự cầm quyền của Nhật Bản ban hành một “sắc lệnh trục xuất người nước ngoài bằng bất kỳ giá nào” – tuyên bố rằng bất kỳ tàu nước ngoài nào đến gần bờ biển Nhật Bản đều sẽ bị xua đuổi vô điều kiện, nếu cần thiết sẽ dùng tới vũ lực.

Tuy nhiên, tất cả những điều này chỉ là khúc dạo đầu cho một sự thay đổi mạnh mẽ, ở đó Nhật Bản cuối cùng tự đưa mình vào trật tự toàn cầu – chủ yếu là của phương Tây trong hai thế kỷ – và trở thành một cường quốc hiện đại tuân theo các nguyên tắc của Hòa ước Westphalia. Năm 1853, chất xúc tác mang tính quyết định xuất hiện khi Nhật Bản phải đối mặt với bốn tàu hải quân Mỹ được cử đi từ Norfolk, Virginia, trong một chuyến thám hiểm cố tình coi thường các sắc lệnh biệt lập của Nhật Bản bằng cách xâm nhập vào Vịnh Tokyo. Sĩ quan chỉ huy của họ, Đô đốc Matthew Perry, đem theo một bức thư của Tổng thống Millard Fillmore tới Thiên Hoàng Nhật Bản, và cứ nhất quyết phải đưa được tận tay cho đại diện hoàng gia ở thủ đô Nhật Bản (một hành vi vi phạm luật lệ của Nhật Bản và các nghi thức ngoại giao đã được gìn giữ trong suốt hai thế kỷ). Cũng giống như Trung Quốc, ít coi trọng ngoại thương, Nhật Bản chắc chắn không thể đặc biệt yên tâm với lá thư của Tổng thống, trong đó thông báo tới Hoàng đế (người mà Fillmore gọi là “Người bạn tốt và vĩ đại!” của ông) rằng người dân Mỹ “nghĩ rằng nếu Hoàng thượng có thể thay đổi luật pháp cổ xưa để cho phép thương mại tự do giữa hai nước thì điều đó sẽ vô cùng có lợi cho cả hai.” Fillmore che đậy bức tối hậu thư này dưới vỏ bọc một lời đề nghị thực dụng cổ điển của Mỹ, rằng những sắc lệnh biệt lập được coi như là bất biến từ trước tới nay có thể được nới lỏng trên cơ sở thử nghiệm:

Nếu Hoàng thượng không hài lòng rằng sẽ không hoàn toàn an toàn nếu bãi bỏ các luật lệ cổ xưa cấm ngoại thương, chúng có thể được tạm đình chỉ trong năm hay mười năm để thử nghiệm. Nếu việc thử nghiệm không chứng minh được lợi ích như kỳ vọng, những luật lệ cổ xưa có thể được phục hồi. Mỹ thường giới hạn các hiệp ước với nước ngoài trong vòng một vài năm và sau đó quyết định có gia hạn chúng hay không nếu mang lại kết quả hợp lý.

Người Nhật Bản nhận bức thông điệp này và thấy đây như là một sự thách thức đối với quan niệm của họ về trật tự chính trị và quốc tế. Tuy nhiên, họ phản ứng bằng sự điềm tĩnh dè dặt của một xã hội đã trải qua và hiểu được tính nhất thời của các nỗ lực của con người qua nhiều thế kỷ trong khi vẫn giữ được bản chất thiết yếu của mình. Tìm hiểu hỏa lực vượt trội hơn nhiều của Perry (đại bác và súng của Nhật Bản đã hầu như không có bước tiến nào trong hai thế kỷ, trong khi các tàu của Perry được trang bị hỏa lực pháo binh hải quân hiện đại có khả năng bắn đạn pháo, như ông đã thể hiện dọc bờ biển Nhật Bản), các nhà lãnh đạo của Nhật Bản đã kết luận rằng việc đối đầu trực tiếp với “những con tàu đen” sẽ là vô ích. Họ dựa vào sự gắn kết xã hội để thích ứng với cú sốc này và duy trì sự độc lập của mình nhờ sự gắn kết đó. Họ thảo một bức thư sắc sảo trả lời lịch sự, rằng mặc dù những thay đổi mà Mỹ mong muốn “bị tổ tiên hoàng tộc chúng tôi cực lực cấm đoán”, tuy nhiên, “nếu tiếp tục duy trì pháp luật cổ xưa này sẽ là không hiểu tinh thần thời đại.” Thừa nhận “chúng tôi giờ đây bị chi phối bởi sự cần thiết có tính cấp bách,” các đại diện của Nhật Bản đảm bảo với Perry rằng họ chuẩn bị để đáp ứng gần như tất cả các yêu sách của Mỹ, bao gồm cả việc xây dựng một hải cảng mới có khả năng chứa các tàu của Mỹ.

Từ thách thức này của phương Tây, Nhật Bản đã rút ra một kết luận trái ngược với Trung Quốc sau sự xuất hiện của một phái viên Anh vào năm 1793 (…). Trung Quốc tái khẳng định lập trường truyền thống đánh đuổi xâm lược bằng sự thờ ơ lạnh lùng với việc bồi đắp những đức tính đặc biệt của mình, tự tin rằng với quy mô rộng lớn về mặt dân số và lãnh thổ của mình và sự tinh tế của nền văn hóa, cuối cùng Trung Quốc sẽ chiến thắng. Với sự quan tâm rất kỳ công đến từng chi tiết và sự phân tích tinh tế về sự cân bằng lực lượng vật chất và tinh thần, Nhật Bản bắt đầu tham gia vào trật tự quốc tế dựa trên các khái niệm của phương Tây về chủ quyền, tự do thương mại, luật quốc tế, công nghệ, và sức mạnh quân sự – nhưng với mục đích loại bỏ sự thống trị của ngoại bang. Sau khi một phe nhóm mới lên nắm quyền vào năm 1868 hứa hẹn sẽ “tôn thờ Hoàng đế, tống khứ những “tên mọi da trắng” bằng cách làm chủ các khái niệm và công nghệ của chính những “tên mọi da trắng” đó và tham gia vào trật tự thế giới theo Hòa ước Westphalia như một thành viên bình đẳng. Sự lên ngôi của Tân Thiên Hoàng Minh Trị được đánh dấu bởi Hiến chương Tuyên thệ có chữ ký của giới quý tộc, hứa hẹn một chương trình cải cách sâu rộng, trong đó bao gồm quy định rằng tất cả các tầng lớp xã hội cần được khuyến khích tham gia cải cách. Chương trình này cam kết trong các cuộc nghị bàn tranh luận tại tất cả các tỉnh về một tiến trình hợp lý và thực hiện đầy đủ nguyện vọng của người dân. Nó dựa trên sự đồng thuận quốc gia, một trong những điểm mạnh chủ yếu – hay có lẽ là đặc điểm đặc biệt nhất – của xã hội Nhật Bản:

  1. Theo lời tuyên thệ này, chúng tôi thiết lập mục tiêu xây dựng sự thịnh vượng của quốc gia trên mọi mặt; tạo lập hiến pháp và pháp luật.
  2. Các cuộc nghị bàn tranh luận sẽ được thiết lập rộng rãi và tất cả các vấn đề sẽ được quyết định thông qua thảo luận công khai.
  3. Tất cả các tầng lớp, dù cao hay thấp, đều đồng tâm hiệp lực trong việc nỗ lực thực hiện các công việc quản lý của nhà nước.
  4. Những người dân thường, kể cả công chức dân sự và quân sự, tất cả sẽ được phép theo đuổi mong muốn của mình để không có sự bất mãn nào.
  5. Những hủ tục của quá khứ sẽ được loại bỏ và tất cả sẽ chỉ được dựa trên những luật lệ của Tự nhiên.
  6. Sẽ tìm kiếm tri thức trên toàn thế giới để củng cố nền tảng trị vì của hoàng gia.

Từ đó, Nhật Bản bắt tay vào việc xây dựng hệ thống đường sắt, công nghiệp hiện đại, một nền kinh tế định hướng xuất khẩu, và một quân đội hiện đại. Giữa tất cả những cải cách này, sự độc đáo của văn hóa và xã hội Nhật Bản sẽ là yếu tố giữ gìn bản sắc Nhật Bản.

Các kết quả của sự thay đổi to lớn này tất yếu sẽ đưa Nhật Bản nhảy vọt lên hàng ngũ các cường quốc thế giới trong vòng vài thập kỷ. Năm 1886, sau một cuộc chạm trán giữa các thủy thủ Trung Quốc và cảnh sát Nagasaki, một tàu chiến Trung Quốc hiện đại do người Đức đóng đã tiến về phía Nhật Bản, đòi hỏi phải giải quyết vụ việc. Tới thập kỷ tiếp theo, việc xây dựng và đào tại hải quân quân chuyên sâu đã đưa Nhật Bản lên thế thượng phong. Năm 1894, khi tranh chấp về ảnh hưởng tương đối của Nhật Bản và Trung Quốc ở Triều Tiên lên đến đỉnh điểm thành một cuộc chiến tranh, Nhật Bản đã hoàn toàn chiếm ưu thế. Các điều khoản hòa bình bao gồm việc chấm dứt quyền bá chủ của Trung Quốc đối với Triều Tiên (mở đường cho những cuộc đối đối đầu mới giữa Nhật Bản và Nga) và sự chuyển nhượng Đài Loan thành một thuộc địa do Nhật Bản cai trị.

Nhật Bản thực hiện các cải cách của mình mạnh mẽ tới mức các cường quốc phương Tây sớm bị buộc phải từ bỏ mô hình “đặc quyền ngoại giao” – “quyền” của những nước này trong việc xét xử công dân của mình ở Nhật Bản bằng luật riêng của họ chứ không phải luật bản địa – mà họ đã lần đầu tiên áp dụng ở Trung Quốc. Trong một hiệp ước thương mại mang tính cột mốc, Anh – cường quốc phương Tây chiếm ưu thế – cam kết các công dân của mình ở Nhật Bản sẽ tuân theo sự xét xử của Nhật Bản. Năm 1902, hiệp ước này đã biến thành một liên minh quân sự, sự liên kết chiến lược chính thức đầu tiên giữa một cường quốc châu Á với một cường quốc phương Tây. Anh tìm kiếm sự liên minh để cân bằng áp lực của Nga đối với Ấn Độ. Mục tiêu của Nhật Bản là đánh bại ước vọng của Nga nhằm thống trị Triều Tiên và Mãn Châu và thiết lập sự tự do hành động của chính mình trong các kế hoạch sau này ở đây. Ba năm sau, Nhật Bản khiến thế giới sửng sốt khi đánh bại Đế quốc Nga trong một cuộc chiến, thất bại đầu tiên của một nước phương Tây trước một quốc gia châu Á trong thời hiện đại. Trong Thế chiến I, Nhật Bản tham gia cùng các cường quốc phe Đồng Minh, đánh chiếm các căn cứ của Đức ở Trung Quốc và Nam Thái Bình Dương.

Nhật Bản đã nổi lên như môt cường quốc lớn phi phương Tây đầu tiên lúc bấy giờ, được các quốc gia từ trước đến nay vốn đã định hình nên trật tự quốc tế công nhận như một quốc gia bình đẳng về quân sự, kinh tế, và ngoại giao. Có một sự khác biệt quan trọng: từ phía Nhật Bản, các liên minh với các nước phương Tây không dựa trên những mục tiêu chiến lược chung mà nhằm đánh bật các đồng minh châu Âu của mình ra khỏi châu Á. Sau khi châu Âu kiệt sức trong Thế chiến I, các nhà lãnh đạo Nhật Bản kết luận rằng thế giới đang bị bao vây bởi những xung đột, khủng hoảng tài chính, và chủ nghĩa biệt lập của Mỹ cho phép sự bành trướng đế quốc nhằm áp đặt một bá quyền lên châu Á. Năm 1931, Đế quốc Nhật Bản tách Mãn Châu khỏi Trung Quốc và thiết lập vùng này như một quốc gia vệ tinh của mình dưới sự cai quản của Hoàng đế Trung Quốc lưu vong. Năm 1937, Nhật Bản tuyên chiến với Trung Quốc nhằm chinh phục thêm lãnh thổ của nước này. Dưới danh nghĩa “Trật tự Mới ở châu Á” và sau đó là “Khu vực Thịnh vượng chung Đông Á”, Nhật Bản đã nỗ lực tổ chức khu vực ảnh hưởng riêng của mình – ngược với các nguyên tắc của Hòa ước Westphalia, một “khối các quốc gia châu Á do Nhật Bản đứng đầu và vắng bóng các cường quốc phương Tây” – được sắp xếp theo tôn ti cấp bậc để “qua đó tất cả các quốc gia có thể tìm thấy đúng chỗ của mình trên thế giới.” Trong trật tự mới này, chủ quyền của các quốc gia châu Á khác sẽ bị nuốt chửng, đặt dưới sự giám hộ của Nhật Bản.

Các thành viên của trật tự quốc tế đã được thiết lập từ trước không ngăn cản được vì đã quá kiệt sức với Thế chiến I và quá bận tâm với cuộc khủng hoảng ngày càng nghiêm trọng ở châu Âu. Duy nhất một nước phương Tây vẫn ngáng đường kế hoạch này là Mỹ, đất nước đã dùng vũ lực buộc Nhật Bản phải mở cửa gần một thế kỷ trước. Cứ như thể lịch sử là một câu chuyện dài, những quả bom đầu tiên của cuộc chiến tranh giữa hai nước này rơi trên lãnh thổ của Mỹ vào năm 1941, khi Nhật Bản phát động một cuộc tấn công bất công bất ngờ vào Trân Châu Cảng4. Huy đông quân sự của Mỹ ở Thái Bình Dương cuối cùng lên đến đỉnh điểm bằng việc sử dụng hai quả bom hạt nhân (lần duy nhất những quả bom này sử dụng vì mục đích quân sự cho tới nay), khiến Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện.

Nhật Bản thích ứng với thất bại này bằng cách phương pháp tương tự như phản ứng của nước này với Hạm đội trưởng Perry: sự kiên cường được duy trì bởi tinh thân dân tộc bất khuất dựa trên nền văn hóa truyền thống đặc biệt. Nhằm khôi phục quốc gia Nhật Bản, các nhà lãnh đạo thời hậu chiến của Nhật Bản (hầu hết đã tham gia chính quyền trong các năm 1930 và 1940) miêu tả việc đầu hàng như một sự thích ứng với các ưu tiên của Mỹ; thực sự, Nhật Bản sử dụng thẩm quyền từ chế độ chiếm đóng của Mỹ để hiện đại hóa hoàn toàn và hồi phục nhanh hơn so với việc nếu chỉ dựa trên nỗ lực thuần túy của chính quốc gia mình. Nước này từ bỏ việc dùng chiến tranh như là một công cụ của chính sách quốc gia, khẳng định các nguyên tắc dân chủ lập hiến, và trở lại với hệ thống quốc tế các quốc gia có chủ quyền như một đồng minh của Mỹ – mặc dù ít nổi bật và chủ yếu quan tâm rõ rệt tới sự phục hồi kinh tế hơn là tham gia vào chiến lược lớn. Trong gần bảy thập kỷ, định hướng mới này đã chứng tỏ là một chiếc neo quan trọng trong sự ổn định của châu Á và hòa bình thịnh vượng trên toàn cầu.

Vị thế hậu chiến của Nhật Bản thường được miêu tả như là một chủ nghĩa hòa bình mới, trên thực tế điều này phức tạp hơn nhiều. Quan trọng hơn cả, nó phản ánh sự chấp thuận về ưu thế của Mỹ và sự đánh giá về bối cảnh chiến lược cũng như tính cấp thiết của sự tồn tại và thành công trong dài hạn của Nhật Bản. Giới quản lý thời hậu chiến của Nhật Bản chấp nhận bản hiến pháp do chính quyền Mỹ chiếm đóng soạn thảo, với việc nghiêm cấm các hành động quân sự như một điều cần thiết trong hoàn cảnh cấp bách của họ. Họ tuyên bố định hướng tự do dân chủ như là sản phẩm của riêng mình; họ khẳng định các nguyên tắc dân chủ và cộng đồng quốc tế giống như những gì các nước tư bản phương Tây theo đuổi.

Đồng thời, các nhà lãnh đạo Nhật Bản cũng khiến cho vai trò phi quân sự độc đáo của đất nước mình thích ứng với những mục tiêu chiến lược dài hạn của Nhật Bản. Họ biến đổi hoàn toàn những khía cạnh hòa bình của trật tự hậu chiến từ một lệnh cấm các hành động quân sự sang sự cấp thiết tập trung vào các yếu tố quan trọng khác của chiến lược quốc gia, bao gồm cả việc tái thiết kinh tế. Quân đội Mỹ được mời tiếp tục triển khai ở Nhật Bản với số lượng đáng kể, và cam kết phòng thủ này được củng cố thành một hiệp ước an ninh chung, ngăn chặn những thế lực đối kháng tiềm tàng (bao gồm một Liên Xô đang bành trướng sự hiện diện ở Thái Bình Dương) khỏi việc coi Nhật Bản như một mục tiêu của hành động chiến lược. Cùng với việc thiết lập khuôn khổ cho mối quan hệ này, các nhà lãnh đạo Nhật Bản trong Chiến tranh Lạnh đã phát triển khả năng quân sự độc lập để tiến hành củng cố các năng lực của đất nước.

Hiệu quả của giai đoạn đầu tiên trong quá trình phát triển sau chiến tranh của Nhật Bản nằm ở việc đưa định hướng chiến lược của mình ra khỏi các xung đột trong Chiến tranh Lạnh, giải phóng mình để tập trung vào một chương trình đổi mới phát triển kinh tế. Về phương diện pháp lý, Nhật Bản tự đặt mình trong nhóm các nền dân chủ phát triển nhưng từ chối tham gia những cuộc đấu tranh về ý thức hệ của thời đại, bằng cách viện dẫn định hướng hòa bình và cam kết của nước này với cộng đồng thế giới. Kết quả của chiến lược tinh tế này là một giai đoạn tăng trưởng kinh tế thần kỳ sánh ngang với thời kỳ sau cuộc Cách mạng Minh Trị5 năm 1868. Chỉ trong vòng hai thập kỷ sau khi bị chiến tranh tàn phá, Nhật Bản đã xây dựng lại và vươn lên thành một cường quốc kinh tế lớn trên thế giới. Chẳng bao lâu sau, sự thần kỳ của Nhật Bản bị coi như một thách thức tiềm tàng đối với sự vượt trội về kinh tế của Mỹ, dù nền kinh tế Nhật Bản bắt đầu chững lại trong thập niên cuối cùng của thế kỷ 20.

Sự gắn kết xã hội và ý thức cam kết với đất nước tạo điều kiện cho sự biến đổi lớn lao này diễn ra, đáp ứng với những thách thức thời đại. Nó khiến người Nhật Bản có khả năng đối phó với thảm họa động đất, sóng thần, và cuộc khủng hoảng hạt nhân năm 2011 ở vùng Đông bắc – mà theo ước tính của Ngân hàng Thế giới là thảm họa thiên nhiên gây thiệt hại lớn nhất trong lịch sử – với biểu hiện đáng kinh ngạc về việc tương trợ lẫn nhau và tinh thần đoàn kết dân tộc. Những thách thức tài chính và nhân khẩu học đã trở thành chủ đề của đánh giá nghiên cứu nội bộ, và của những biện pháp táo bạo không kém trên một vài khía cạnh. Trong mỗi nỗ lực, Nhật Bản luôn phát huy các nguồn lực của mình với niềm tin truyền thống rằng bản chất và văn hóa dân tộc của mình có thể được duy trì qua hầu như bất kỳ sự điều chỉnh nào.

Những thay đổi kịch tính trong sự cân bằng quyền lực chắc chắn sẽ được giới cầm quyền Nhật Bản biến thành sự thích ứng mới đối với chính sách đối ngoại của Nhật Bản. Dưới thời Thủ tướng Shinzo Abe, dự lãnh đạo quốc gia đã mang lại cho Tokyo phạm vi hành động mới dựa trên những đánh giá của mình. Tháng Mười hai năm 2013, sách trắng của chính phủ Nhật kết luận “do môi trường an ninh của Nhật Bản ngày càng trở nên nghiêm trọng… việc thực hiện các nỗ lực một cách chủ động hơn, phù hợp với nguyên tắc hợp tác quốc tế là tuyệt đối cần thiết đối với Nhật Bản, “ bao gồm tăng cường lực “răn đe” của Nhật Bản và “đánh bại” các mối đe dọa nếu cần thiết. Xét thấy bối cảnh châu Á đang thay đổi, Nhật Bản ngày càng nêu rõ mong muốn trở thành một “quốc gia bình thường” với một quân đội không bị hiến pháp cấm tham chiến và một chính sách liên minh tích cực. Vấn đề đối với trật tự khu vực châu Á là sẽ định nghĩa sự “bình thường’ này như thế nào.

Giống với các khoảnh khắc quan trọng khác trong lịch sử của mình, việc Nhật Bản đang hướng tới xác định lại vai trò rộng lớn hơn của nước này trong trật tự quốc tế chắc chắn sẽ có những hậu quả sâu rộng cả trong và ngoài khu vực. Tìm kiếm một vai trò mới, quốc gai này sẽ một lần nữa đánh giá lại, cẩn thận, không cảm tính, và không phô trương, về sự cân bằng của các lực lượng vật chất và tinh thần, trong bối cảnh sự trỗi dậy của Trung Quốc, sự phát triển của Hàn Quốc và tác động của ba quốc gia này đối với an ninh của Nhật Bản. Quốc gia này sẽ kiểm tra tính hữu dụng và hồ sơ của việc liên minh với Mỹ cũng như sự thành công đáng kể của liên minh trong việc phục vụ các lợi ích chung rộng rãi; và cũng sẽ xét đến sự rút quân của Mỹ khỏi ba cuộc xung đột quân sự. Nhật Bản sẽ tiến hành phân tích với ba tùy chọn rộng mở: tiếp tục nhấn mạnh việc liên minh với Mỹ, thích ứng với sự trỗi dậy của Trung Quốc, và sự phụ thuộc vào chính sách đối ngoại ngày càng mang tính dân tộc. Trong đó, tùy chọn vào sẽ chiếm ưu thế, hay lựa chọn kết hợp các tùy chọn đó, phụ thuộc và những tính toán của Nhật Bản về sự cân bằng quyền lực toàn cầu – chứ không phải những đảm bảo chính thức của Mỹ – và cách mà nước này ý thức về các xu hướng cơ bản. Nếu Nhật Bản nhận thấy một cấu trúc quyền lực mới đang diễn ra ở khu vực hoặc trên thế giới, quốc gia này sẽ lấy những đánh giá thực tế làm căn cứ cho an ninh của mình, chứ không dựa trên những liên kết truyền thống. Do đó, kết quả phụ thuộc vào sự đánh giá của giới cầm quyền Nhật Bản về mức độ tin cậy trong chính sách của Mỹ ở châu Á, và việc họ đánh giá sự cân bằng tổng thể giữa các lực lượng ra sao. Định hướng dài hạn trong chính sách đối ngoại của Mỹ, cùng với sự phân tích của Nhật Bản, sẽ còn là vấn đề cần thảo luận nhiều.

CHÚ THÍCH

  1. Cũng gọi là Washiba Hideyoshi (1537-1598), là daimyo (lãnh chúa) của thời kỳ Sengoku. Thời kỳ nắm quyền của ông thường được gọi là thời kỳ Momoyama, theo tên lâu đài của ông. Ông nổi tiếng với những di sản văn hóa của mình, bao gồm đặc quyền mang vũ khí của tầng lớp samurai. Toyotomi Hideyoshi thường được coi là người thứ hai cóp công thống nhất Nhật Bản.
  2. Lý Thuấn Thuần (1545-1598), vị tướng nổi tiếng, một trong số ít đô đốc hải quân toàn thắng. Hy sinh do trúng đạn trong trận Lộ Lương. Trước khi tắt thở, ông nói “đừng để người ta biết tôi chết” (vì sợ rằng quân mình mất tinh thần, còn quân địch thêm phấn chấn). Tượng đài của ông được đặt giữa quảng trường Quang Hóa Môn ở trung tâm Seoul đã khiến ông trở thành người anh hùng bất tử đối với người Hàn Quốc.
  3. Bắt nguồn từ độ cao 2.500m của ngọn Bạch Đầu trên dãy Trường Bạch, có chiều dài 790km, lưu vực rộng 30.000 km2, là con sông hình thành biên giới tự nhiên giữa hai quốc gia Trung Quốc và Bắc Triều Tiên. Tên của con sông bắt nguồn từ tiếng Mãn (Yaluula) có nghĩa là sông biên giới.
  4. Hay Chiến dịch Hawaii theo cách gọi của Bộ Tổng tư lệnh Nhật Bản, là một đòn tấn công quân sự bất ngờ được Hải quân Nhật Bản thực hiện nhằm vào căn cứ hải quân của Mỹ tại Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) thuộc tiểu bang Hawaii (ngày 7 tháng Mười hai năm 1941), được trù tính sẽ ngăn ngừa và giữ chân Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ không can thiệp đến cuộc chiến mà Nhật Bản đang hoạch định nhằm xâm chiếm Đông Nam Á, chống lại Anh, Hà Lan, và Mỹ. Cuộc tấn công này dẫn đến việc Mỹ sau đó quyết định tham chiến trong Thế chiến II.
  5. Cải cách Minh Trị (1866-1869) là một chuỗi các sự kiện cải cách dẫn đến các thay đổi to lớn trong cấu trúc xã hội và chính trị Nhật Bản, mở đường cho việc biến Nhật Bản phong kiến thành nước tư bản chủ nghĩa, thoát khỏi số phận một nước thuộc địa/nửa thuộc địa, tiến hành công nghiệp hóa khiến nền kinh tế Nhật Bản phát triển mạnh mẽ trong 30 năm cuối của thế kỷ 19, trở thành một cường quốc quân sự năm 1905 sau khi đánh bại Hải quân Hoàng gia Nga và trước đó là chiến thắng trong cuộc chiến tranh Giáp Ngọ (1894-1895) với nhà Thanh.

TRẬT TỰ THẾ GIỚI – HENRY KISSINGER

VÕ TÌNH THƯƠNG (Số hóa)