Bài 1 – GIỚI THIỆU LOẠT BÀI VỀ VEEAM® BACKUP & REPLICATION V7 CHO VMWARE

Bài 2 – CÁC KIỂU CHIẾN LƯỢC SAO LƯU DỮ LIỆU

Bài 3 – THÀNH PHẦN VÀ KIẾN ​​TRÚC CỦA VEEAM BACKUP & REPLICATION

Trước khi chúng ta bắt đầu, cần phải đảm bảo rằng bạn đã đáp ứng đủ các điều kiện sau:

Đảm bảo rằng đủ dung lượng đĩa trống cho kho lưu trữ trên máy chủ nơi Veeam Backup & Replication v7 được cài đặt.

Tải xuống phiên bản mới nhất từ ​​www.veeam.com; cần phải đăng ký tài khoản để tải xuống, mặc định là phiên bản dùng thử 30 ngày. Phiên bản Veeam dùng trong loạt bài viết này là v7.0.0.690.

File tải về sẽ có dạng là .iso. Kể từ các phiên bản Windows 10 hoặc Windows Server 2012 trở đi, đối với định dạng ảnh đĩa như vầy, bạn chỉ cần nhấp đôi chuột vào nó để mount vào ổ đĩa ảo và tiến hành cài đặt, không cần phải cài thêm phần mềm hỗ trợ nào.

Sau khi đã tải xong hoàn tất file về máy, ta tiến hành mount nó ra và cài đặt.

Truy cập vào ổ đĩa ảo vừa mới mở của file .iso, chạy file cài đặt.

veeam01.jpg

Nhấp chuột vào Install ở phần Veeam Backup & Replication để cài đặt. Màn hình chào mừng của Veeam Backup & Replication sẽ xuất hiện, nhấn vào Next để tiếp tục, nhớ nhấn vào đồng ý đối với điều khoản sử dụng ở màn hình tiếp theo. Sau đó, nhấn Next để tiếp tục.

Bây giờ, ta sẽ được chuyển tới màn hình yêu cầu cung cấp license. Nếu bạn đã mua license từ Veeam, có thể nhấn vào Browse và chọn tới nơi lưu license để cài đặt. Nếu bạn chỉ cài đặt để dùng thử, ta có thể bỏ qua bước này, nhưng dĩ nhiên là sẽ bị giới hạn thời gian sử dụng. Trong trường hợp bạn đã mua license rồi và làm mất file, bạn vẫn có thể truy cập vào www.veeam.com và yêu cầu một bản mới của license đó, bằng cách liên lạc với đội ngũ hỗ trợ của hãng.

veeam02.jpg

Bước tiếp theo sẽ là lựa chọn xem những thành phần nào bạn muốn cài đặt. Tùy chọn mặc định là sẽ cài đặt Veeam Backup & Replication và Veeam Backup Catalog. Veeam Backup và Replication PowerShell SDK chỉ cần thiết nếu bạn muốn sử dụng cùng một server phục vụ làm điểm đầu vào cho các mã kịch bản (scripting) của PowerShell của Veeam.

Tiếp tục, tiến trình cài đặt sẽ kiểm tra thông tin cấu hình hệ thống, để đảm bảo máy chủ cài đặt sẽ đáp ứng đủ các điều kiện cần của phần mềm. Nếu có bất kỳ trường thông tin nào không đáp ứng được yêu cầu đầu vào này, nó sẽ hiển thị đầy đủ dạng danh sách cho ta xem và đặc biệt, có hỗ trợ cả việc cài đặt luôn mà không cần người dùng phải đi tìm file để cài đặt.

Nếu phát sinh thiếu bất kỳ gói cài đặt đầu vào nào, chỉ việc chọn vào nó và nhấn Install để bổ sung.

veeam03.jpg

Tiến trình cài đặt sẽ yêu cầu ta khởi tạo tài khoản để quản lý các dịch vụ của Veeam Backup & Replication, hay còn được gọi với tên là service account. Trong suốt quá trình cài đặt diễn ra, ta được khuyến cáo nên sử dụng tài khoản có quyền local admin trên chính máy được cài đặt đó. Đặc biệt, tài khoản này cũng cần phải có quyền database owner right đối với cơ sở dữ liệu của Veeam, cực kỳ quan trọng nếu bạn có kế hoạch cài đặt cài SQL server ở server khác với server cài Veeam Backup & Replication. Bên cạnh đó thì tài khoản này cũng cần có quyền full-control NTFS trên repository của máy Veeam Backup & Replication Server. Chi tiết về các quyền cần thiết cho các thành phần của Veeam bạn có thể truy cập vào đây để đọc thêm thông tin:

http://helpcenter.veeam.com/backup/70/vsphere/required_permissions.html.

veeam04.jpg

Trong bài cài đặt này, tôi sử dụng tài khoản domain administator, nhưng trong tình huống thực tế, ta nên sử dụng một tài khoản riêng biệt khác trong Active Directory trước khi bắt đầu cài đặt, và tài khoản này sẽ được dùng xuyên suốt trong cả quá trình cài đặt diễn ra. Tài khoản này không nhất thiết phải giống hoàn toàn với tài khoản sẽ được dùng để quản lý với vCenter hoặc các ESXi host.

Bây giờ sau ta sẽ chỉ định instance cụ thể cho SQL Server. Bài lab này sử dụng SQL Instance cục bộ, nhưng nếu muốn bạn có thể chỉ định tới một SQL Server ngoài ở chính bước này. Trong các mô hình hệ thống doanh nghiệp lớn, việc triển khai thêm một máy chủ chạy SQL Server instance riêng biệt là điều được khuyến cáo, thay vì cài chung database trên chính máy chủ quản lý Veeam Backup & Replication như ở bài lab này hoặc các mô hình hệ thống doanh nghiệp nhỏ và vừa.

veeam05.jpg

Sau khi cấu hình xong các bước trên, ta nhấn vào nút Next để tiếp tục.

Màn hình cài đặt tiếp theo hiển thị thông tin cấu hình cổng mạng TCP/IP. Nếu trong hệ thống triển khai Veeam Backup & Replication có sự trùng lắp về vấn đề port mạng thì ta có thể thay đổi cấu hình ở ngay bước ngày. Nhưng nếu không có gì thay đổi, ta sẽ để nguyên mặc định. Nhấn Next để chuyển sang cửa sổ Directory Configuration.

veeam06.jpg

Chuyển sang bước này, ta sẽ được phép cấu hình nơi chứa cho thư mục vPower NFS, thư mục được dùng trong quá trình di chuyển các disk của VM từ file sao lưu sang nơi phục hồi, và Guest file system catalog, được dùng cho đánh chỉ mục (indexing) của các file đã được backup trong các VM. Với vNFS, dung lượng tối thiểu cần có được khuyến nghị là 10GB. Trong bài này tôi thiết lập cho phân vùng này mức 50GB.

Như vậy, tới đây thì quá trình cài đặt sẽ bắt đầu khởi chạy và phiên bản cục bộ của MS SQL Server 2008 R2 Express sẽ được cài. Nếu bạn sử dụng một tài khoản khác tài khoản domain administrator như ta đã nói lúc trước, phải đảm bảo tài khoản này có quyền Full Control trên các thư mục ta vừa cấu hình.

veeam07.jpg

Xem lại các thông tin đã cấu hình, nhấn Install để bắt đầu cài đặt.

Tiếp, ta cần phải nâng cấp Veeam Backup & Replication lên bản mới nhất là phiên bản R2, điều này cần thiết cho việc hỗ trợ Microsoft Windows 2012 và vSphere 5.5. Bạn nên đảm bảo đã cập nhật các bản release và patch mới nhất trước khi cài đặt để mọi thứ suôn sẻ.

Bây giờ ta tới bước cài đặt bản R2 đi riêng so với bản cài đặt ta vừa xong. Bản này cũng tải trên trang chủ của www.veeam.com, và bắt buộc phải cài sau quá trình trên. Bản cài đặt R2 này có dạng .exe chứ không phải .iso như bộ cài đặt chính, như file tôi tải về có tên: veeam_backup_7.0.0.764.R2_setup.exe, sẽ cho phép ta nâng cấp lên bản 7.0 Cumulative Patch 2 mà không cần phải nhập và tùy chỉnh bất cứ điều gì.

veeam08.jpg

Cuối cùng, ta có được bản Veeam Backup & Replication đã được patch tới phiên bản mới nhất. Khởi chạy chương trình bằng cách nhấp đôi chuột vào biểu tượng của nó ở trên màn hình desktop hoặc trong start menu. Trong lần đầu tiên khởi chạy, màn hinh Components Update sẽ xuất hiện. Nhấn vào Next để cập nhật các thành phần của chương trình lên bản mới nhất, bao gồm trong cả R2.

veeam09.jpg

Ở cửa sổ này, chỉ việc nhấn Next và chờ đợi đến khi hoàn tất là được.

Configuring a repository

Mặc định, chương trình sẽ tạo ra repository backup tại đường dẫn C:\backup. Điều đầu tiên ta cần phải làm là thay đổi nó đi và lưu trữ ở một nơi khác với dung lượng đảm bảo đủ dùng cho sau này. Thực hiện các bước sau để cấu hình repository:

Nhấn vào Backup Infrastructure để mở cửa sổ cấu hình lên. Nhấn chuột phải vào vào khung bên phải và chọn Add Backup Repository. Nó sẽ mở ra một cửa sổ cấu hình mới có tên New Backup Repository.

veeam10.jpg

Đặt tên cho repository và nhấn Next. Nếu bạn cài đặt trên môi trường Windows Server, ta nên để mặc định các thông số này và nhấn Next.

veeam11.jpg

Bây giờ ta có thể tùy chỉnh được nơi chứa cho repository. Nhấn vào Browse để chọn nơi lưu mong muốn. Như trong bài lab này tôi sẽ đặt backup repository ở ổ đĩa G:\Backup. Với môi trường thực tế và mô hình hệ thống doanh nghiệp lớn, ta nên đặt tên cho các thư mục một cách chi tiết hơn, ít chung chung để dễ nhận biết. Sau khi chọn xong và để các thông số khác ở mặc định, ta nhấn Next.

Cấu hình cho vPower NFS ở bước tiếp theo, ta giữ nguyên.

Xem lại các thông số cấu hình lần cuối trước khi nhấn Next để khởi tạo repository mới. Sau khi tạo mới thành công, ta có thể xóa đi repository cũ ở C:\Backup được.

Trước khi có thể loại bỏ nó, chúng ta cũng cần di chuyển Backup & Configuration (sao lưu cấu hình), vì mặc định nó được đặt trong kho lưu trữ mặc định. Để thực hiện việc này, chọn tùy chọn sao lưu cấu hình từ menu và thay đổi kho lưu trữ sao lưu từ mặc định sang nơi mới được tạo. Khi đã xong, nhấp chuột phải vào Default Backup Repository và chọn Remove.

Nhấp vào Yes trên cửa sổ pop-up để loại bỏ. Cấu hình mới bây giờ sẽ được chuyển đến kho lưu trữ sao lưu mới cùng với các công việc sao lưu khác mà chúng ta sẽ định cấu hình sau này.

Bây giờ chúng tôi có thể kết nối với VMware vCenter và cấu hình các công việc sao lưu!

Nhấp chuột vào Virtual Machines và chọn Add Server. Một cửa sổ mới hiện ra, bạn có thể chọn kiểu của server muốn đăng ký với Veeam Backup & Replication. Chọn VMware vSphere, nhập vào vCenter fully qualified domain name (FQDN) hoặc địa chỉ IP.

veeam12.jpg

Tiếp theo là thông tin đăng nhập VMware vCenter của bạn. Nhấp vào Add…, nhập thông tin của bạn và nhấp vào Next để tiếp tục. Tài khoản này là riêng biệt với các tài khoản khác. Sau khi hoàn tất, bạn có thể mở rộng thẻ VMware vSphere ra và xem được thông tin của vCenter đang dùng, bao gồm các thông trong nó như clusters, hosts, vApps, và các máy ảo được nó quản lý.

veeam13.jpg

Sau cùng, ta đã cài đặt và cấu hình thành công cho Veeam Backup & Replication v7, kết nối với hạ tầng vSphere và sẵn sàng cho các tác vụ sao lưu rồi!

VÕ TÌNH THƯƠNG

votinhthuong9@gmail.com